Di Tản và Vượt Biên, Vàng Máu và Nước Mắt

 

Viet. NO, 23/4/05
Phạm Hữu Trác

 

 

"Trong 2 năm qua, nhất là từ tháng 9 năm 1978, làn sóng người tị nạn từ nước Cộng ḥa Xă hội chủ nghĩa VN mới được thống nhất gần đây, tràn ngập các trại tị nạn Đông Nam Ạ Hàng trăm ngàn người VN khác, đă bị các viên chức chính quyền Hà Nội bắt buộc ra đi trên những chiếc tàu không thể đi biển được,...

 

... và đă biến mất trên Biển Đông đầy bất trắc. Ở một số bờ biển Thái Lan, các ngư dân đă phải quay tàu về đất liền khi kinh hoàng chứng kiến một phần thi thể của người vượt biển vướng vào lưới.

 

V́ sao quá nhiều người liều mạng bỏ trốn khỏi VN? Ta có thể t́m thấy câu trả lời khá dễ dàng trong các chính sách hậu chiến đă được áp dụng mà một cựu đảng viên CS Bắc Việt tóm tắt như sau: " tiêu diệt các thế lực thù nghịch: trừng trị những kẻ bù nh́n, đánh bại giới tư bản, đánh đuổi người Trung Hoa"

 

Dưới đây, dựa vào những cuộc phỏng vấn người tỵ nạn, là những dữ kiện đầy kinh hoàng về tội ác của Hà nội 'liquid Auschwitz' có thể sánh được với sự khủng khiếp của Hitler trong việc diệt chủng dân Do Thái.


( by Anthony Paul - Why they flee their homeland - Reader's Digest December 1979 )

 

"Hiện tượng thuyền nhân đă phản ảnh được những sự đau khổ của những người phải trốn chạy khỏi quê hương ḿnh v́ lư do này hay lư do khác. Họ không phải chỉ kín đáo đi từ bên này sang bên kia biên giới, chờ đợi cơ hội quay về khi mọi chuyện đă trở lại b́nh thường hay theo ư họ mong muốn. Họ ra đi, không hề biết trước ḿnh sẽ đi đâu, đến đâu, không có viễn ảnh hồi hương, và chịu rủi ro bị chết đuối, hay chết v́ tật bệnh, v́ hải tặc ngoài khơi. Họ hầu như không biết số phận ḿnh sẽ ra sao. Bất kể ra đi v́ ư định riêng, v́ là nạn nhân của những biến cố lịch sử, hay v́ sự hà khắc do bất đồng trong những quan điểm chính trị, những thuyền nhân này đang phải đang tâm cắt bỏ những ràng buộc với quê hương và đồng bào nơi chôn nhau cắt rốn của họ."


( by Bruce Grant - The boat people: An Agé Investigation )

 

" Những thuyền nhân đơn thuần chỉ có ác cảm với những biện pháp kiểm soát áp đặt của chính quyền, mối ác cảm đă mănh liệt đến độ họ phải đi đến một quyết định thật khác thường. Họ là những người, ngay cả trong những giấc mơ hoang đường nhất trước năm 1975, cũng không bao giờ muốn rời bỏ VN. Trớ trêu thay, lịch sử đă đảo lộn, đă thay đổi cuộc đời họ, vượt xa sức họ tưởng tượng, đến mức họ phải quyết định bỏ lại sau lưng tất cả những người và những ǵ yêu quư, chấp nhận liều mạng sống của ḿnh cũng như chấp nhận mọi nỗi kinh hoàng của một tương lai bất định, để rời khỏi VN.

 

Điều ǵ đă xui khiến một người quyết định tương lai của đời ḿnh mà lại không theo những lề lối thông thường? Để hiểu rơ lư do tại sao những thuyền nhân bỏ quê hương ra đi, chúng ta cần biết về những ǵ họ cảm thấy đă mất, những thứ họ đă thiết tha yêu quư. Để hiểu được những đau thương hôm nay, ta cần biết những ǵ đă xẩy ra trước đó. "


( by Lesleyanne Hawthorne - Refugee - The Vietnamese Experience )

 

" Những 'thuyền nhân', danh từ thế giới gán cho họ, thường phải chịu nhiều rủi ro lớn lao, từ rất lâu trước khi đặt được chân xuống tàu. Trong khi cố gắng t́m cách để thoát được công an và lính biên pḥng, họ đă chấp nhận rủi ro bị bắn, hoặc nhẹ nhất là, bị bắt lại và bỏ tù. Những ai may mắn xuống được tàu phải ra đi trên các thuyền đánh cá mỏng manh đầy ắp người không thích hợp để đi vượt đại dương. Thường thường, họ nhắm hướng đi đến Thái Lan hoặc Mă Lai, nhưng lại cập bến ở đâu đó giữa Hồng Kông và Úc Đại Lợị Biển cả cũng cướp đi một số người mà không ai biết được là bao nhiêu. Tuy vậy, cuối cùng th́ câu chuyện về những người tị nạn Đông Dương là câu chuyện về những người bị từ chối. Trước tiên và đau đớn nhất, họ bị chính quyền của chính nước họ khước từ. Họ cũng nhiều lần bị cự tuyệt bởi các quốc gia lân bang nơi họ đến xin tạm trú, và bị từ chối ít nhất là vào lúc đầu bởi các nước Tây Phương và Nhật Bản, những quốc gia duy nhất có khả năng và tấm ḷng cứu vớt thuyền nhân. "


( by Barry Wain - The refused: The Agony of The Indochina Refugees )

 

" Chúng tôi cần gạo và thực phẩm. Trong những ngày này, chúng tôi không có tiền để mua thêm thức ăn. Chúng tôi không được phép có công việc làm. Nếu thực phẩm được phát trễ, chúng tôi chỉ việc nhịn đói. Chúng tôi có rất ít nước uống, v́ đang là mùa khô. Tôi nghĩ nếu mọi chuyện không thay đổi, chúng tôi sẽ chết hết." Refugee: Thailand, 1978.
 

" Trong bệnh viện, một người đàn ông và đứa con trai đang khóc trên lán. Tàu họ đă đến đêm hôm trước, nhưng bị lật úp. Người vợ, người mẹ đă chết đuối."


( Delegates of 'Society of Friends': Malaysia, 1979 )

 

" Các lính tuần tra phát hiện có những bao ni-lông xoáy tṛn trên mặt nước. Họ chuẩn bị tăng tốc độ vọt đi tiếp, th́ khám phá ra rằng, các bao nhựa này đă được thổi phồng, căng lên, để chở hai em bé sơ sinh, dĩ nhiên là chưa biết bơi. Người mẹ đang ra sức đẩy chúng. Người cha đă không may chết đuối trước đó."


( Report: Mekong River Crossing, 1978 )
 

Người mẹ của một em trai 14 tuổi kể lại, tàu của cô bị hải tặc từ một tàu cào của Thái Lan nhảy sang. " Tôi biết bọn chúng sẽ làm ǵ ", cô vừa kể vừa khóc nức nở " Tôi van xin chúng đừng làm ǵ trước mặt con trai tôi. V́ thế, chúng đưa tôi vào cabin tàu, rồi 7 tên cưỡng hiếp tôi trong đó."


( Refugee : Malaysia, 1979 )

 

Anh Huỳnh Văn Trân, 34 tuổi, ngồi trên 1 băng ghế gỗ ở trại tị nạn Songkhla ở 1 bờ biển cực nam của Thái Lan, thuật lại câu chuyện của ḿnh lần thứ ba. Anh ra đi trên một chiếc tàu gồm 62 người đàn ông, phụ nữ và trẻ em. Họ may mắn gặp thời tiết và gió thuận lợi, và không bị rắc rối ǵ với máy tàu. Vào ngày thứ 5 trên biển, một chiếc tàu mă lực lớn dài 15 mét đến cặp sát mạn tàu anh. Có 12 người đàn ông trên thuyền, tất cả đều trang bị vũ khí đầy đủ. Trước hết, chúng ra lệnh cho hai người trong số phụ nữ sang tàu chúng. Một trong hai người này là vợ anh Huỳnh Văn Trân. Cô này bị gh́ chặt xuống, súng trường kê sát thái dương, và bị ra lệnh không được kêu la. Cô bị chúng cưỡng hiếp.
 

Bọn hải tặc sau đó nhảy qua tàu tị nạn, cướp đi mọi thứ có giá trị, bắn một người đàn ông c̣n do dự khi chúng cướp. Sau đó chúng tăng tốc độ phóng đi với các món của cải chiếm được, nhưng th́nh ĺnh quay ngoắt lạị. Vẫn giữ nguyên tốc độ tối đa, chúng nhắm thẳng vào tàu tị nạn và đâm mạnh. Chiếc tàu hải tặc đă lập đi lập lại hành động này trong khi nhóm người tị nạn đang hốt hoảng ngoi ngóp giữa biển khơi. Bọn cướp biển cố ư lái tàu cán qua vô số chiếc đầu đang nhấp nhô, có lẽ v́ không muốn để sót lại nhân chứng nào. Khi vợ anh Trân c̣n đang chới với trên mặt nước, với đứa con trai mới lên 3 đang níu chặt cổ mẹ, cả hai đă bị tàu cán qua và chết đuối, 10 người trong số họ sống sót, sau đó được vớt lên và đưa tới Songkhla. Toàn thể thính giả đều nín lặng.
 

Đó là một câu chuyện thương tâm hơn những chuyện khác, nhưng hẳn nhiên không phải là ngoại lệ, hiếm có.. Có rất nhiều tàu tị nạn đă bị hải tặc tấn công nhiều hơn một lần." ( UNHCR: 1979 )

 

Bao nhiêu thuyền nhân đă chết ngoài biển khơi? Không ai biết chắc cả. Nhiều người nói với chúng tôi rằng có lẽ 5% các tàu rời VN đă bị mất tích, nhưng nhiều người lại cho là có đến 70% tàu không hề đến được bờ.


( Delegates of 'Society of Friends': - Pulau Bidong, 1979 " Georgina Ashworth - The boat people and the road people )

 

Trong vài năm đầu những thuyền tỵ nạn c̣n được tiếp đón tử tế bởi dân chúng và chính phủ các nước láng giềng nhưng v́ làn sóng tỵ nạn ngày càng nhiều nên những niềm nở ban đầu đă bị giảm xuống hoặc tệ hơn đă bị thay bằng thái độ xua đuổi như đă từng xẩy ra ở Thái Lan, Mă Lai. Tầu của người tỵ nạn, khi bị tầu hải quân Mă kéo trở ra hải phận quốc tế có một số đă bị ch́m và làm chết oan một số người.
 

Do đó nếu như may mắn không bị bắt lại, thoát được gió băo, không hư máy dọc đường và không gặp hải tặc các thuyền nhân vẫn chưa chắc sẽ đến được các trại tạm cư. Đó là chưa kể đến những khó khăn về đủ mọi phương tiện từ vệ sinh, y tế, nước uống, thực phẩm...nơi các trại tỵ nạn. Thật ra dùng chữ trại tỵ nạn cho lịch sự vậy thôi chứ vào thời điểm ấy không một quốc gia nào có thể lường được là con số người chạy CS, bỏ nước ra đi sẽ đông đến như vậy.
 

Do đó chẳng có quốc gia nào đă có những sửa soạn để có thể đón tiếp một số lượng người đến quá ào ạt và nhiều đến thế. Trại tỵ nạn đă là những kho xưởng, những trại lính, những chiếc phà cũ, những chiếc phao nổi, những ḥn đảo san hô hoặc đảo hoang, nhỏ nằm chơ vơ giữa đại dương. Đặt được chân trên đất là phải đi t́m cỏ, đốn cây để dựng lều để tạm trú tránh cái nóng ban ngày và cái lạnh ban đêm....C̣n nhiều nhiều nữa, kể sao cho hết những cái khổ của kiếp lưu vong. Đến năm 1988 v́ quá mệt mỏi với số người tỵ nạn phải cưu mang trên hơn mười năm, Cao Ủy tỵ nạn và các quốc gia có trại tạm cư đă quyết định áp dụng hệ thống thanh lọc để xác định tư cách tỵ nạn chính trị của các thuyền nhân nếu họ đến sau ngày 16-6-1988. Quyết định này cũng đă gây ra khá nhiều thảm cảnh rất đáng thương như được kể lại dưới đây.

 

Sau đây là vài trích đoạn về những thảm cảnh đầy nước mắt đó:
 

" 0 giờ ngày 16-6-1988 mở đầu một định mệnh khác cho những người VN vượt biển đến Hồng Kông. Kể từ ngày này họ sẽ bị đối xử như những người nhập cảnh bất hợp pháp và phải chờ chính phủ thanh lọc để xác định tư cách tỵ nạn chính trị, trước khi được cứu xét cho đi định cư ở nước thứ ba. Thời điểm phủ nhận ư nghĩa ban đầu sự ra đi của người vượt biển.


Thời điểm đánh đổ mọi luận cứ sắp sẵn về quyền tỵ nạn, về quyền đi t́m chỗ trú, và đồng thời che dấu luôn sự bất lực của con người trước thảm cảnh của đồng loại, sự hấp hối của lương tri trước nỗi khổ của những cuộc khởi hành muộn. Như một tấm màng nhện giăng ra chận bắt những cuộc đời lưu lạc, thời điểm 16-6-1988 dựng nên những trại giam khổng lồ trên khắp thuộc địa Hồng Kông, ghi thêm một thảm cảnh thời đại."


( Lê Đại Lăng - " Nước mắt trong tim " )

 

- " Ngày 20/5/1994, Lê Xuân Thọ, 28 tuổi, tự rạch bụng ḿnh và tự thiêu. Anh sau đó đă chết v́ phỏng nặng. Phạm Văn Châu, một cựu quân nhân VN, tự thiêu ở trại tị nạn Galang, Nam Dương ngày 26/4/1994. Hai ngày sau th́ anh qua đời.

 

- Ngày 12/4/1992, Nguyễn Văn Quang, một hạ sĩ thuộc Liên đoàn 1 Không vận của Nam VN, đă treo cổ tự tử ở trại Galang, Nam Dương, sau khi bị khước từ tư cách tị nạn chính trị, và đơn kháng cáo của anh cũng bị bác. Anh mất đi để lại 1 góa phụ và 3 đứa bé mồ côi cha c̣n nhỏ dại.

 

- Ngày 30/8/1991, tại trại Galang, Nam Dương: cô Trịnh Kim Hương, 28 tuổi, tự thiêu sau khi bị phủ nhận tư cách tị nạn chính trị.

 

- Hoàng Thị Thu Cúc, 26 tuổi, một trong số vài người sống sót khi vượt biên khỏi VN. Cha cô là lănh tụ của một chính đảng chống cộng và đă chết trong 'trại cải tạó của CS. Gia đ́nh cô bị trục xuất khỏi nhà, tới một trại lao động cưỡng bách. Bản thân Cúc cũng bị đuổi khỏi trường v́ 'lư lịch gia đ́nh xấu.' Bất kể những sự kiện trên, cô vẫn bị khước từ quy chế tị nạn. Tháng12/1992, khi đơn kháng cáo của cô cũng bị bác bỏ, cô đă treo cổ tự tử, để lại bốn anh em trai ở trại Sikiew, Thái Lan.

 

- Vụ tự sát của Lâm Văn Hoàng, 22 tuổi, đă gây nên một cuộc biểu t́nh phản đối ở trại tị nạn Pulau Bidong, MăLai. Anh đă lao ḿnh từ vách đá xuống biển, sau khi bị từ chối tư cách tị nạn chính trị vào tháng giêng năm 1991.

 

- Trần Văn Minh, cựu Trung úy, treo cổ tự tử ngày 10/10/1992. Ông được cấp quy chế tị nạn chính trị, nhưng người con trai Trần Minh Khôi, 18 tuổi, đă bị rớt 'thanh lọc'. V́ Khôi không có 3.000 đôla Mỹ mà các viên chức duyệt xét đ̣i hỏi, đơn kháng cáo của anh sau đó cũng bị bác.

 

- Ngày 8/12/1993, Trần Anh Dũng từ trần khi lên cơn suyễn, sau khi Cao ủy tị nạn Liên Hiệp Quốc (LHQ) đóng cửa trạm y tế duy nhất trong trại tị nạn.

 

- Tháng 2/1993, Lưu Thị Hồng Hạnh, một em gái 16 tuổi không người thân thích, đă tự thiêu sau khi Cao ủy tị nạn LHQ rút lại quy chế tị nạn của em.

 

- " Chị thương, hôm nay em đă bị từ chối tư cách tị nạn chính tri Rạng sáng mai, em sẽ treo cổ tự tử để thoát mọi đau khổ. Nhưng lúc nào em cũng sẽ ở bên cạnh chị để che chở cho chị và các cháu. ". (Thư tuyệt mệnh của anh Nguyễn Văn Hai, 27 tuổi, viết cho chị, vào buổi tối trước khi tự tử trong Trại cấm Whitehead, Hồng Kông, ngày 16/2/1990.)

 

- " Bản tường tŕnh của luật sư đă khiến tôi phải sống trong lo sợ. Nó đă dần dần đẩy tôi vào chỗ chết." (Trịnh Anh Huy, 20 tuổi, tự thiêu ngay trước văn pḥng của Cao ủy tị nạn LHQ ở Galang, Nam Dương, ngày 27/8/1992.)

 

- " Tôi chết đi không phải v́ tuyệt vọng, mà v́ tôi muốn đem lại niềm hy vọng và sự sống cho nhiều người khác." ( Vài hàng tuyệt mệnh của Nguyễn Ngọc Dũng, 25 tuổi. Ngày 3/5/1993, anh đă tự đâm vào tim và chết tức khắc trước văn pḥng Cao ủy tị nạn LHQ tại trại Sungei Besi, Mă Lai. )".


Vietnamese Boat People - A cry to humanity.


 

*********

 

Khóc người đáy biển
 


(Viết để khóc cho ḿnh và cho những thuyền nhân kém may
mắn trên đường vượt biển t́m Tự Do sau 1975.- NMH - )

 

Tháng Tư ra biển khóc người
Oan hồn hỡi, đáy trùng khơi, xin vệ
Biển chiều vàng ánh tà huy
Dài tay sóng níu bước đi vô hồn
Đứng trên bờ đá cô đơn
Khóc người bằng tiếng thơ buồn xót xa
Ai hay đáy biển là nhà
Máu pha lệ hận chan ḥa đại dương
Thịt da nát dưới bạo cuồng
Ngàn trang huyết sử bên đường tử sinh!
Mắt buồn nh́n sóng biển xanh
Thấy sương khói vẫn vô t́nh khói sương
Mà ḷng đ̣i đoạn đau thương
Xót người đáy biển đoạn trường chưa nguôi
Tháng Tư ra biển khóc người
Hiển linh,chứng giám đôi lời thơ đau
Tôi viễn xứ, người biển sâu
Chung hồn lưu lạc, chung sầu quê hương
Người trên sóng nước trùng dương
Tôi khung cửa hẹp, gió sương bốn mùa
Bóc tờ lịch. Lại Tháng Tư!
Đau t́nh sông núi làm thơ khóc người
Người vùi xương trắng biển khơi
C̣n tôi sống kiếp dân Hời v́ ai?

 

Ngô Minh Hằng

 


************************
 


HỒN BIỂN ĐÔNG
 

Việt Điểu Sào Nam
 


Ta tưởng quên ta hiện hữu
Quên cả dĩ văng tương lai
V́ ngày mai đâu là ư nghĩa
Trong cơi mù tăm kiếp nào luân lạc
Ta lăng ơn cứu rỗi bụi trần
Thành phố ấy cao,
Những buổi chiều trời chợt thấp
Trên đồi Bellevue
Ngất ngưỡng ngàn thông réo rắt
Phím nhạc cung đàn ai kéo ngược ḍng thiên sử
Gần hai mươi thế kỷ rạng ngời đông xưa
Nơi đây vắng hạc gầy kiêu sa đưa bước
Bên người trung cổ da ngựa bọc thây một thời
Hắn gỗ đá trong bộ giáp thép đeo mang kệch cỡm
Che kín trái tim, che cả muôn mặt cuộc đời
Chẳng ai nghe hắn nói một lời
Chẳng ai biết hắn cười hay khóc
" H́nh như hắn cũng có một Quê Hương! ? "
" H́nh như hắn cũng có một cơi t́nh đă chết! ? "
Thái B́nh Dương một chiều ảm đạm
Cuối tháng chạp Mô.t-Chín-Bảy-Chín ngàn xưa
Trên chuyến thuyền SS0646-IA
Sao nỡ cưỡng sát hơn 80 mạng người
Hỡi loài Thái tặc man rợ!!!
Nhân danh đạo ngă từ bi,
Nhân danh Tự Do cướp giết hoan hỉ
Thôi thế âm thầm cười khóc Phật di
SongKhla! SongKhla!!! Sa-bai-đi khun Thai
Hai mươi sáu năm rồi vợ con ta đâu
29 tháng 12!!! đất đá cũng khổ đau
Hằng năm, 29 tháng 12
Đám giỗ biển trời mưa ngâu.....!!!......
29 tháng 12 đám giỗ biển trời mưa ngâu.....
Hằng năm 29 tháng 12 đám giỗ biển trời mưa ngâu.....

 

NV / Việt Điểu Sào Nam
30 năm độc thoại
July 14 - 2005


***********************


 

Dù sao đi nữa chúng ta vẫn c̣n phải mang ơn dân chúng và chính phủ của các quốc gia đă giúp chúng ta chỗ tạm cư, cho phép chúng ta được định cư hoặc đă cứu vớt chúng ta khi chúng ta đă tuyệt vọng v́ lạc lối, v́ hết lương thực hay v́ máy tầu đă hỏng mà không c̣n cách ǵ để sửa chữạ. Không có ḷng nhân đạo và sự đối xử đầy t́nh người của đại đa số dân chúng các quốc gia ấy, chúng ta không được như thế này ngày hôm nay.

 

Sự thành công của thế hệ thứ hai trong cộng đồng Người Việt Tự Do Hải Ngoại ngày hôm nay chắc chắn sẽ không thể có được nếu không có sự cưu mang của các quốc gia trong Thế Giớ Tự Do. Ngày hôm nay sau 30 năm ly hương viết lại một phần nhỏ trong những nỗi khổ đau của dân tộc không phải để đào sâu hận thù mà để cho chúng ta hiểu và ghi nhớ những bài học lịch sử đọ Đó là bổn phận của chúng ta những chứng nhân của giai đọan đau buồn này.

 

30 năm sống lưu vong, lúc nào đa số chúng ta cũng vẫn mong có ngày trở về để góp phần xây dựng cho quê hương bớt lạc hậu, giúp cho dân tộc có được những bước đi căn bản dẫn đến một nền Tự Do, Dân Chủ đích thực mà dân ta chưa bao giờ được hưởng. Điều này chỉ có thể xảy ra khi người Việt trong và ngoài nước thật tâm muốn xây dựng quê hương, đặt Tổ Quốc lên trên mọi quyền lợi, từ bỏ được chủ thuyết CS ngoại lai đă du nhập và thoát được sự chi phối của các thế lực chính trị quốc tế.
 

Bùi Trọng Cường
Viết cho tháng Tư đen 2005


 

Tài liệu tham khảo :

Ashworth Georgina - The Boat People and The Road People - Quartemaine House 1979

Bich Huyền - The Trail I Will Never Forget - Lối Cũ Chẳng Sao
Quên - 2000

Butler David - The Fall Of Saigon - Simon and Schuster New York 1985

Cao Văn Viên - Những Ngày Cuối Của Việt nam Cộng Ḥa -
Vietnam Bibliography 2003

Clark Marcus - Exit Visa - William Heinemann Australia 1989
cộng đồng Người Việt Tỵ Nạn CS - Vụ Kiện WJC/UMAS
Boston - Nắng Mới Miền Nam 2004

Dawson Alan - 55 DAYS The Fall Of South Vietnam - Prentice Hall International 1977

Diễn Đàn Sự Thật - Red File, 1945-1995 50 Years Of Violations Of Human Rights in Communist Vietnam - 2005

Đào Văn B́nh - Những Sự Thực Không Thể Chối Bỏ - 1987

Đoàn Thêm - Nhà Quê Ra Tỉnh - Cơ Sở Xuất Bản Phạm Quang Khai và Tổ Hợp Xuất Bản Miền Đông Hoa Kỳ 1996

Dương Hiếu Nghĩa - Nước VNCH Bị Bức Tử - Vanuxem - La
Mort Du Vietnam - Đại Nam 1997

Frankum B. Ronald Jr. & Maxner F. Stephen - The Vietnam War for Dummies - Wiley Publishing, Inc 2003

Grant Bruce - The Boat People: An "AGE" Investigation - Penguin Books 1979

Hà Sĩ Phu - Đôi Điều Suy Nghĩ Của Một Công Dân - TIN Paris 1993

Hawthorne Lesleyanne - Refugee The Vietnamese Experience - Oxford University Press 1982

Hội Quốc Tế Y Sĩ VN Tự Do - Vàng máu và nước mắt:
Khảo Sát Về Tù Cải Tạo và Vượt Biên Trong Giới Y Sĩ - 2000

Karnow Stanley - Vietnam A History - Century Publishing London 1983

Lê Đại Lăng - Bút Kư Hồng Kông: Nước mắt trong tim - 1990

MJS Keys Young Planners P/L - Survey of Vietnamese Refugees - Department of Immigration & Ethnic Affairs - 1983

Maga P. Timothy - The Complete Idiot"s Guide to The Vietnam War - Alpha Books 2000

National Refugee Week 1989 - REFUGEES: Who do you think we arẻ - Queensland Office of Ethnic Affairs 1989

NSW Refugee Fund Committeee - Hard Evidences of Corruption In Screening Under The Comprehensive Plan Of Action - 1994

Nguyễn Bá Cẩn - Đất Nước Tôi - Ḥa Hảo Press 2003

Nguyễn Văn Canh - Vietnam Under Communism, 1975-1982 - Hoover Institution Press Stanford University 1983

Nguyễn Văn Canh - CS Trên Đất Việt - Kiến Quốc 2003

Paul Anthony - Why They Flee Their Homeland - Reader"s Digest December 1979.

Phạm Huấn - Cuộc Triệt Thoái Cao Nguyên 1975 - 1987

Phạm Huấn - Những Uất Hận Trong Cuộc Chiến Mất Nước - 1988

Phạm Kim Vinh - Chính Nghĩa Lưu Vong C̣n Một Chút Này - 1991

Phan Nhật Nam - Những Chuyện Cần Được Kể Lại - 1995

Phùng Hy - Cuốn Theo Cơn Lốc - 1997

Refugee Council Of Australia - Vietnamese Boat People In Hong Kong - September 1988
 

State of the World"s Refugees 2000: 50 Years of Humanitarian Action- Chapter 4: FLIGHT FROM INDOCHINA
Support Committee for Refugees from Vietnam - Vietnamese Boat People: A CRY TO HUMANITY - 1994
 

Tucker C. Spencer - The Encyclopedia of the Vietnam War - Oxford University Press 1998

Trần Nhật Kim - Cuộc Chiến Chưa Tàn - 1998

Trương Như Tảng - A Vietcong Memoir: An Inside Account Of The Vietnam War And Its Aftermath - Vintage Books 1986
 

Viviani Nancy - The Long Journey - Melbourne University Press 1984

Wain Barry - The Refused: The Agony Of The Indochina Refugees - Simon & Schuster 1981

 

 

 

* * * * * * * *

 




visitors

 


Guestbook

 

Please sign Guestbook in Memory

of the Boat People Who Died

on their Journey to Freedom.

 

Boat People homepage
 

 

Please bookmark this page, more pictures & articles will be added later.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Make your own free website on Tripod.com